A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

BIỆN PHÁP “ TẠO HỨNG THÚ HỌC TẬP CHO HỌC SINH THÔNG QUA CÁC CÂU HỎI LIÊN HỆ VỚI THỰC TIỄN CUỘC SỐNG”

Hóa học là một môn khoa học thực nghiệm, gắn liền với sự phát triển khoa học kĩ thuật, ứng dụng khoa học công nghệ phục vụ cuộc sống. Vì vậy, trong dạy hóa học, sẽ hấp dẫn và thiết thực hơn khi giáo viên biết khai thác các nội dung hóa học để xây dựng các bài tập theo hướng liên hệ thực tế với cuộc sống. Đây cũng là một yêu cầu quan trọng trong việc đổi mới nội dung và phương pháp dạy học nhằm tăng tính thực tiễn của môn học.

Môn Hóa học ở trường phổ thông nếu không có những bài giảng và phương pháp hợp lí phù hợp với thế hệ học trò dễ làm cho học sinh thụ động trong việc tiếp thu, cảm nhận.Trước tình hình đó, Hóa học phải đổi mới phương pháp dạy học đã và đang thực sự là yếu tố quyết định hiệu quả giờ dạy. Một trong những yếu tố để đạt giờ dạy có hiệu quả và tiến bộ là phát huy tính thực tế.

Trong việc dạy môn hoá học ở trường trung học phổ thông, người giáo viên phải có vốn kiến thức về thực tế sâu, rộng, có khả năng gắn bài giảng với thực tế, tạo ra được những giờ học sinh động, nâng cao sự hiểu biết và kích thích sự ham mê học tập của học sinh. Chính vì vậy tôi đã nghiên cứu và áp dụng biện pháp “Tạo hứng thú học tập cho học sinh thông qua các câu hỏi liên hệ với thực tiễn cuộc sống”.

       1.  Liên hệ thực tiễn khi giới thiệu bài giảng mới. Cách nêu vấn đề này có thể tạo cho học sinh bất ngờ, có thể là một câu hỏi rất khôi hài hay một vấn đề rất bình thường mà hàng ngày học sinh vẫn gặp nhưng lại tạo sự chú ý quan tâm của học sinh trong quá trình học tập.

Ví dụ : Khi dạy về chủ đề AMIN giáo viên chiếu cho HS quan sát một số hình ảnh về tác hại của thuốc lá đến sức khỏe con người.   

 

 

 

 

Sau đó GV đặt câu hỏi: Qua các hình ảnh trên các em thấy được điều gì? Tại sao thuốc lá lại có hại đối với sức khỏe?

2. Liên hệ thực tế qua các phản ứng hóa học cụ thể trong bài học. Cách nêu vấn đề này có thể sẽ mang tính cập nhật, làm cho học sinh hiểu và thấy được ý nghĩa thực tiễn bài học. Giáo viên có thể giải thích để giải tỏa tính tò mò của học sinh.

Ví dụ 1: Khi chủ đề MỘT SỐ HỢP CHẤT QUAN TRỌNG CỦA KIM LOẠI KIỀM, sau khi học xong tính chất của NaHCO3, giáo viên có thể liên hệ như sau:

- GV: Vì sao muối NaHCO3 được dùng để chế thuốc đau dạ dày?

- HS: Trong dạ dày, có chứa dung dịch HCl. Người bị đau dạ dày là người có nồng độ dung dịch HCl cao làm dạ dày bị bào mòn. NaHCO3 dùng để chế thuốc đau dạ dày vì nó làm giảm hàm lượng dung dịch HCl có trong dạ dày nhờ phản ứng:

            NaHCO3 + HCl ® NaCl + CO2 + H2O

Ví dụ 2: Khi dạy chủ đề AXIT CACBOXYLIC (ở lớp 11), giáo viên có thể liên hệ thực tế như sau:

- GV: Vì sao khi bôi vôi vào chỗ ong, kiến đốt sẽ đỡ đau ? (Giáo viên có thể cung cấp cho học sinh thông tin: Trong nọc ong, kiến, nhện có axit HCOOH)

- HS: Do trong nọc ong, kiến, nhện có axit hữu cơ tên là axit fomic (HCOOH). Vôi là chất bazo nên trung hòa axit làm ta đỡ đau.

            2HCOOH + Ca(OH)2® (HCOO)2Ca + 2H2O

3.  Liên hệ thực tế sau khi đã kết thúc bài học. Cách nêu vấn đề này có thể tạo cho học sinh căn cứ vào những kiến thức đã học tìm cách giải thích hiện tượng ở nhà hay những lúc bắt gặp hiện tượng đó, học sinh sẽ suy nghĩ, ấp ủ câu hỏi vì sao lại có hiện tượng đó?

Ví dụ: Sau khi dạy xong chủ đề NHÔM VÀ HỢP CHẤT CỦA NHÔM giáo viên chiếu cho học sinh quan sát hình ảnh về lũ lụt ở miền Trung.

 

Câu hỏi: Trong tháng 10 vừa qua mưa lũ kéo dài ở khu vực miền Trung đã gây ra những hậu quả rất nghiêm trọng. Trong lũ lụt thiếu nước sạch cho ăn uống và sinh hoạt khi bốn bề ngập nước là một vấn đề rất nghiêm trọng, ảnh hưởng tới sức khỏe của người dân. Do đó việc hướng dẫn bà con xử lý nước lũ thành nước sạch để dùng tạm là rất quan trọng. Một trong số những biện pháp để làm trong nước đó là sử dụng phèn chua (K2SO4.Al2(SO4)3.24H2O). Em hãy cho biết tại sao phèn chua lại có tác dụng làm trong nước?

- HS: Phèn chua là muối sunfat kép của nhôm và kali ở dạng tinh thể ngậm nước

                        K2SO4.Al2(SO4)3.24H2O

            Phèn chua không độc, có vị chua, ít tan trong nước lạnh nhưng tan nhiều trong nước nóng. Khi tan trong nước, phèn chua sẽ bị thủy phân và tạo thành Al(OH)3 ở dạng kết tủa keo lơ lửng trong nước

                        Al2(SO4)3® 2Al3+ + 3SO42-

                        Al3+ + H2O ® AlOH2+ + H+

                        AlOH2+ + H2O ® Al(OH)2+  +  H+

                        Al(OH)2+  + H2O ® Al(OH)3 + H+

                        Al2(SO4)3  + 3H2O ® 2Al(OH)3 + 3H2SO4

Chính những hạt Al(OH)3 kết tủ

Môn Hóa học ở trường phổ thông nếu không có những bài giảng và phương pháp hợp lí phù hợp với thế hệ học trò dễ làm cho học sinh thụ động trong việc tiếp thu, cảm nhận.Trước tình hình đó, Hóa học phải đổi mới phương pháp dạy học đã và đang thực sự là yếu tố quyết định hiệu quả giờ dạy. Một trong những yếu tố để đạt giờ dạy có hiệu quả và tiến bộ là phát huy tính thực tế.

Trong việc dạy môn hoá học ở trường trung học phổ thông, người giáo viên phải có vốn kiến thức về thực tế sâu, rộng, có khả năng gắn bài giảng với thực tế, tạo ra được những giờ học sinh động, nâng cao sự hiểu biết và kích thích sự ham mê học tập của học sinh. Chính vì vậy tôi đã nghiên cứu và áp dụng biện pháp “Tạo hứng thú học tập cho học sinh thông qua các câu hỏi liên hệ với thực tiễn cuộc sống”.

       1.  Liên hệ thực tiễn khi giới thiệu bài giảng mới. Cách nêu vấn đề này có thể tạo cho học sinh bất ngờ, có thể là một câu hỏi rất khôi hài hay một vấn đề rất bình thường mà hàng ngày học sinh vẫn gặp nhưng lại tạo sự chú ý quan tâm của học sinh trong quá trình học tập.

Ví dụ : Khi dạy về chủ đề AMIN giáo viên chiếu cho HS quan sát một số hình ảnh về tác hại của thuốc lá đến sức khỏe con người.   

 

 

 

 

Sau đó GV đặt câu hỏi: Qua các hình ảnh trên các em thấy được điều gì? Tại sao thuốc lá lại có hại đối với sức khỏe?

2. Liên hệ thực tế qua các phản ứng hóa học cụ thể trong bài học. Cách nêu vấn đề này có thể sẽ mang tính cập nhật, làm cho học sinh hiểu và thấy được ý nghĩa thực tiễn bài học. Giáo viên có thể giải thích để giải tỏa tính tò mò của học sinh.

Ví dụ 1: Khi chủ đề MỘT SỐ HỢP CHẤT QUAN TRỌNG CỦA KIM LOẠI KIỀM, sau khi học xong tính chất của NaHCO3, giáo viên có thể liên hệ như sau:

- GV: Vì sao muối NaHCO3 được dùng để chế thuốc đau dạ dày?

- HS: Trong dạ dày, có chứa dung dịch HCl. Người bị đau dạ dày là người có nồng độ dung dịch HCl cao làm dạ dày bị bào mòn. NaHCO3 dùng để chế thuốc đau dạ dày vì nó làm giảm hàm lượng dung dịch HCl có trong dạ dày nhờ phản ứng:

            NaHCO3 + HCl ® NaCl + CO2 + H2O

Ví dụ 2: Khi dạy chủ đề AXIT CACBOXYLIC (ở lớp 11), giáo viên có thể liên hệ thực tế như sau:

- GV: Vì sao khi bôi vôi vào chỗ ong, kiến đốt sẽ đỡ đau ? (Giáo viên có thể cung cấp cho học sinh thông tin: Trong nọc ong, kiến, nhện có axit HCOOH)

- HS: Do trong nọc ong, kiến, nhện có axit hữu cơ tên là axit fomic (HCOOH). Vôi là chất bazo nên trung hòa axit làm ta đỡ đau.

            2HCOOH + Ca(OH)2® (HCOO)2Ca + 2H2O

3.  Liên hệ thực tế sau khi đã kết thúc bài học. Cách nêu vấn đề này có thể tạo cho học sinh căn cứ vào những kiến thức đã học tìm cách giải thích hiện tượng ở nhà hay những lúc bắt gặp hiện tượng đó, học sinh sẽ suy nghĩ, ấp ủ câu hỏi vì sao lại có hiện tượng đó?

Ví dụ: Sau khi dạy xong chủ đề NHÔM VÀ HỢP CHẤT CỦA NHÔM giáo viên chiếu cho học sinh quan sát hình ảnh về lũ lụt ở miền Trung.

 

Câu hỏi: Trong tháng 10 vừa qua mưa lũ kéo dài ở khu vực miền Trung đã gây ra những hậu quả rất nghiêm trọng. Trong lũ lụt thiếu nước sạch cho ăn uống và sinh hoạt khi bốn bề ngập nước là một vấn đề rất nghiêm trọng, ảnh hưởng tới sức khỏe của người dân. Do đó việc hướng dẫn bà con xử lý nước lũ thành nước sạch để dùng tạm là rất quan trọng. Một trong số những biện pháp để làm trong nước đó là sử dụng phèn chua (K2SO4.Al2(SO4)3.24H2O). Em hãy cho biết tại sao phèn chua lại có tác dụng làm trong nước?

- HS: Phèn chua là muối sunfat kép của nhôm và kali ở dạng tinh thể ngậm nước

                        K2SO4.Al2(SO4)3.24H2O

            Phèn chua không độc, có vị chua, ít tan trong nước lạnh nhưng tan nhiều trong nước nóng. Khi tan trong nước, phèn chua sẽ bị thủy phân và tạo thành Al(OH)3 ở dạng kết tủa keo lơ lửng trong nước

                        Al2(SO4)3® 2Al3+ + 3SO42-

                        Al3+ + H2O ® AlOH2+ + H+

                        AlOH2+ + H2O ® Al(OH)2+  +  H+

                        Al(OH)2+  + H2O ® Al(OH)3 + H+

                        Al2(SO4)3  + 3H2O ® 2Al(OH)3 + 3H2SO4

Chính những hạt Al(OH)3 kết tủa dạng keo lơ lửng ở trong nước này đã kết dính với các hạt bụi bẩn, các hạt đất nhỏ để trở thành hạt đất to hơn, nặng hơn và lắng xuống. Vì vậy, mà nước trở nên trong hơn.

       Bên cạnh đó để nâng cao kiến thức hóa học thực tế, giáo viên có thể phối hợp với nhà trường tổ chức các hoạt động trải nghiệm cho học sinh như đưa các em đi tham quan các nhà máy sản xuất, các khu công nghiệp… Qua đó, các em sẽ có cơ hội tham khảo, bổ sung các kiến thức còn trống và tìm hiểu xác thực hơn tác động của hóa học đến đời sống của chúng ta.

a dạng keo lơ lửng ở trong nước này đã kết dính với các hạt bụi bẩn, các hạt đất nhỏ để trở thành hạt đất to hơn, nặng hơn và lắng xuống. Vì vậy, mà nước trở nên trong hơn.

       Bên cạnh đó để nâng cao kiến thức hóa học thực tế, giáo viên có thể phối hợp với nhà trường tổ chức các hoạt động trải nghiệm cho học sinh như đưa các em đi tham quan các nhà máy sản xuất, các khu công nghiệp… Qua đó, các em sẽ có cơ hội tham khảo, bổ sung các kiến thức còn trống và tìm hiểu xác thực hơn tác động của hóa học đến đời sống của chúng ta.


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Bài tin liên quan